Động lực phát triển đất nước: [Bài 4] Chuyển đổi kép xanh và số

Tin tức - Sự kiện 18/01/2026

Đại hội XIV được kỳ vọng tạo bước ngoặt trong tư duy và mô hình tăng trưởng của Việt Nam, chuyển từ tăng trưởng nâu sang chuyển đổi kép xanh và số.

Chuyển đổi kép - dấu ấn tích lũy qua nhiều kỳ Đại hội
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2026 được kỳ vọng mở ra giai đoạn phát triển mới với chiều sâu tư duy và chất lượng hành động cao hơn so với các chu kỳ trước. Văn kiện chuẩn bị cho đại hội thể hiện nỗ lực tái định hình mô hình phát triển quốc gia theo hướng hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và gìn giữ hệ sinh thái. Trục tư duy chủ đạo đặt trọng tâm vào chuyển dịch từ mô hình tăng trưởng nâu dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, năng lượng hóa thạch và lao động giá rẻ sang mô hình chuyển đổi kép xanh và số. Cách tiếp cận này phản ánh yêu cầu thích ứng trước áp lực cạnh tranh toàn cầu, tiêu chuẩn môi trường khắt khe và rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng, đồng thời khẳng định quyết tâm nâng cao nội lực phát triển dài hạn.

Chuyển đổi xanh gắn chặt với chuyển đổi số. 

Quá trình hình thành tư duy chuyển đổi kép tại Việt Nam mang dấu ấn tích lũy qua nhiều nhiệm kỳ đại hội. Từ Đại hội VI mở đường cho Đổi mới, ưu tiên sinh tồn kinh tế đặt lên hàng đầu nhằm giải quyết thiếu đói và mất cân đối vĩ mô, đến các đại hội sau khi đất nước bước vào quỹ đạo công nghiệp hóa với tốc độ cao. Giai đoạn ấy chứng kiến tăng trưởng GDP ấn tượng song kéo theo áp lực lớn lên tài nguyên đất, nước, khoáng sản và môi trường sống đô thị. Nhận thức về giới hạn sinh thái dần hình thành qua các cảnh báo khoa học, phản ánh trong nghị quyết và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, dù mức độ thẩm thấu vào hành động chính sách chưa đồng đều giữa trung ương và địa phương.

Từ Đại hội XI đến Đại hội XIII, tư duy phát triển bền vững được khẳng định rõ ràng hơn, gắn với yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng. Cam kết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế trở thành nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, đặc biệt sau các sự cố ô nhiễm quy mô lớn gây tác động xã hội sâu rộng. Luật Bảo vệ môi trường 2020 đánh dấu bước tiến thể chế quan trọng khi đưa khái niệm kinh tế tuần hoàn, trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, giấy phép môi trường tích hợp và định hướng thị trường carbon vào khung pháp lý quốc gia. Cam kết Net Zero năm 2050 tại COP26 tiếp tục nâng tầm vị thế Việt Nam trên bản đồ khí hậu toàn cầu, tạo áp lực chuyển đổi mạnh mẽ đối với các ngành năng lượng, công nghiệp, giao thông và nông nghiệp.

Trên nền tảng ấy, Đại hội XIV được kỳ vọng chuyển trọng tâm từ định hướng sang hành động với công cụ cụ thể và cơ chế vận hành hiệu quả. Chuyển đổi xanh gắn chặt với chuyển đổi số thông qua ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, nền tảng số trong quản lý tài nguyên, giám sát phát thải, tối ưu chuỗi cung ứng và nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng.

Kinh tế số đóng vai trò chất xúc tác giúp giảm chi phí giao dịch, tăng minh bạch và hỗ trợ đo lường phát thải chính xác, tạo điều kiện vận hành thị trường carbon nội địa theo chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, chuyển đổi xanh tạo không gian phát triển cho công nghệ sạch, năng lượng tái tạo, vật liệu mới và mô hình kinh doanh tuần hoàn, qua đó mở rộng dư địa tăng trưởng chất lượng cao.

Kỳ vọng đột phá tại Đại hội XIV gắn với huy động nguồn lực tài chính xanh và nâng cao năng lực làm chủ công nghệ. Thị trường tín chỉ carbon bắt buộc, cơ chế định giá carbon và chính sách hỗ trợ lãi suất cho dự án xanh được xem là đòn bẩy quan trọng nhằm điều chỉnh hành vi đầu tư và sản xuất. Khi các hàng rào kỹ thuật môi trường như CBAM của Liên minh châu Âu ngày càng siết chặt, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn phát thải thấp trở thành yếu tố sống còn đối với xuất khẩu và vị thế chuỗi giá trị. Chuyển đổi kép vì vậy không đơn thuần mang ý nghĩa môi trường hay công nghệ, mà gắn trực tiếp với chủ quyền kinh tế, an ninh phát triển và khát vọng vươn lên của quốc gia trong kỷ nguyên sinh thái.

Đổi mới mô hình phát triển tại Đại hội XIV
Đại hội XIV được đặt trong kỳ vọng tái cấu trúc sâu sắc mô hình phát triển quốc gia theo hướng sinh thái hóa, số hóa và thị trường hóa. Tư duy chủ đạo thể hiện trong dự thảo văn kiện hướng tới một giai đoạn phát triển mới, môi trường tự nhiên không đứng ở vị trí cần che chắn thụ động mà trở thành nền tảng tạo giá trị kinh tế mới. Chuyển đổi kép được xác lập như logic phát triển bắt buộc, trong đó chuyển đổi số giữ vai trò dẫn dắt, chuyển đổi xanh giữ vai trò định hình giới hạn tăng trưởng. Cách tiếp cận ấy phản ánh nhận thức rằng năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn tới phụ thuộc trực tiếp vào khả năng quản trị carbon, dữ liệu, tài nguyên và công nghệ.

So sánh giữa Đại hội XIII và định hướng chuẩn bị cho Đại hội XIV cho thấy sự thay đổi về cấp độ can thiệp chính sách. Đại hội XIII xác lập nguyên tắc phát triển nhanh gắn với bền vững và khẳng định không đánh đổi môi trường. Đại hội XIV được kỳ vọng chuyển nguyên tắc ấy thành cấu trúc vận hành kinh tế cụ thể thông qua thị trường carbon, tài chính xanh, chuẩn mực công nghệ và hệ thống dữ liệu phát thải. Kinh tế tuần hoàn không dừng ở khuyến khích hay thí điểm mà được đặt vào vai trò động lực tăng trưởng chủ đạo, áp dụng bắt buộc đối với nhiều ngành xuất khẩu, nông nghiệp hàng hóa và công nghiệp chế biến. Thị trường carbon từ giai đoạn nghiên cứu chuyển sang vận hành chính thức với hạn ngạch phát thải áp dụng cho các ngành phát thải lớn, tạo dòng tiền thật cho đổi mới công nghệ. Tài chính xanh chuyển từ lời kêu gọi sang cơ chế tài khóa cụ thể với ngân sách nhà nước tham gia trực tiếp nhằm giảm chi phí vốn cho khu vực tư nhân.

Bản chất của chuyển đổi kép trong tư duy Đại hội XIV nằm ở mối quan hệ tương hỗ giữa xanh và số. Hạ tầng số, dữ liệu lớn, cảm biến, chuỗi khối tạo điều kiện đo đạc, báo cáo, thẩm tra phát thải minh bạch, yếu tố quyết định để thị trường carbon vận hành hiệu quả. Áp lực giảm phát thải, tiết kiệm tài nguyên tạo ra nhu cầu khổng lồ cho giải pháp công nghệ số trong quản lý năng lượng, logistics, nông nghiệp chính xác, đô thị thông minh. Tăng trưởng vì vậy được kỳ vọng diễn ra theo cấp số nhân dựa trên tri thức và công nghệ, thay cho mô hình tuyến tính dựa vào mở rộng đầu vào vật chất.

Mở tài khóa tín dụng xanh
Thách thức lớn của giai đoạn chuyển đổi nằm ở nhu cầu vốn rất lớn cho hạ tầng xanh, năng lượng tái tạo, thích ứng khí hậu. Ước tính đến năm 2040, tổng nhu cầu vốn khoảng 368 tỷ USD, tương đương 6,8% GDP mỗi năm.

Đại hội XIV được kỳ vọng mở ra cơ chế huy động chưa từng có tiền lệ thông qua trợ lực tài khóa cho tín dụng xanh. Tín dụng xanh đã tăng trưởng trung bình 21% mỗi năm song tỷ trọng chỉ chiếm khoảng 6,44% tổng dư nợ nền kinh tế, phản ánh rào cản chi phí đầu tư ban đầu cao và thời gian hoàn vốn dài.

Cơ chế hỗ trợ lãi suất 2% từ ngân sách nhà nước cho dự án xanh, tuần hoàn, công nghệ sạch được xem là bước chuyển về chất, biến cam kết chính trị thành tín hiệu tiền tệ rõ ràng. Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng ban hành chuẩn mực bắt buộc về tỷ lệ tín dụng xanh và quản trị rủi ro môi trường trong thẩm định tín dụng.

Các dự án xanh, tuần hoàn, công nghệ sạch sẽ nhận được nhiều hỗ trợ.

Song hành với tín dụng xanh, trái phiếu xanh và hệ thống phân loại xanh giữ vai trò then chốt trong thu hút vốn quốc tế. Bộ tiêu chí phân loại xanh phù hợp chuẩn mực quốc tế giúp nhà đầu tư nhận diện dự án đáp ứng tiêu chí môi trường, giảm nguy cơ tẩy xanh. Quyền chủ động phát hành trái phiếu xanh cấp địa phương cho hạ tầng bền vững tạo thêm không gian tài chính cho chuyển đổi vùng.

Thị trường tín chỉ carbon được nhìn nhận như tài sản quốc gia mới. Lộ trình thí điểm năm 2026 và vận hành chính thức năm 2029 đặt Đại hội XIV vào giai đoạn quyết định. Cơ chế hạn ngạch phát thải áp dụng cho thép, xi măng, nhiệt điện tạo nhu cầu giao dịch thực, hình thành giá carbon nội địa. Liên thông với thị trường khu vực và quốc tế mở ra khả năng bán tín chỉ với giá cao hơn. Kinh nghiệm bán 10,3 triệu tín chỉ carbon rừng thu về 51,5 triệu USD cho thấy tiềm năng lớn từ tài nguyên sinh thái. Ứng dụng công nghệ số trong định danh, theo dõi lô rừng và hệ sinh thái biển giúp minh bạch nguồn gốc, nâng giá trị tín chỉ, mở đường đưa blue carbon vào danh mục tài sản quốc gia.

Chuyển đổi năng lượng giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ tiến trình. Quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng JETP với quy mô 15,5 tỷ USD đặt ra yêu cầu giải ngân thực chất cho truyền tải điện và năng lượng tái tạo. Yếu tố công bằng được nhấn mạnh nhằm bảo đảm giá điện trong khả năng chi trả của người dân và hỗ trợ chuyển đổi sinh kế cho lao động ngành than. Khát vọng làm chủ công nghệ nguồn thể hiện qua ưu tiên điện gió ngoài khơi, hydrogen xanh, công nghiệp môi trường, bán dẫn. Mô hình hợp tác Nhà nước Nhà trường Nhà doanh nghiệp với ưu đãi thuế và đất đai cho trung tâm nghiên cứu được xem là đòn bẩy cho chiến lược Make in Vietnam.

Kinh tế tuần hoàn trong tư duy Đại hội XIV vượt khỏi phạm vi xử lý chất thải để trở thành cấu trúc tạo giá trị. Nông nghiệp tuần hoàn công nghệ cao kế thừa mô hình VAC truyền thống, biến phụ phẩm thành năng lượng sinh khối và phân bón hữu cơ, giảm phát thải methane, tăng thu nhập nông thôn. Công nghiệp tuần hoàn gắn với thiết kế sinh thái buộc nhà sản xuất tính đến khả năng tái chế ngay từ khâu thiết kế, thúc đẩy ngành tái chế công nghệ cao, thay thế mô hình thủ công gây ô nhiễm.

Đại hội XIV mang sứ mệnh chuyển dịch mô hình tăng trưởng từ